Trả lời:
Trong y học, hai nhóm tế bào gốc được nghiên cứu, ứng dụng nhiều gồm tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô. Tế bào gốc tạo máu có thể lấy từ tủy xương là cơ quan tạo máu hoặc từ máu cuống rốn, máu ngoại vi. Tế bào gốc trung mô lấy từ mô mỡ, mô dây rốn, tủy xương, nhau thai. Những tế bào này có khả năng chống viêm, điều hòa miễn dịch, đồng thời hỗ trợ tái tạo mô, những đặc tính quan trọng được ứng dụng trong y học tái tạo. Tế bào gốc trung mô từ dây rốn còn có thể được sử dụng để điều trị bệnh cho thành viên trong gia đình (anh, chị, em, cha, mẹ, ông, bà...) và người không cùng huyết thống.
Khối tế bào gốc tạo máu có thể thay thế lại hệ máu, hệ miễn dịch trong nhiều bệnh nguy hiểm. Tế bào gốc trung mô có khả năng hỗ trợ tái tạo, sửa chữa mô bị tổn thương do bệnh lý và giúp điều hòa hệ miễn dịch.
Tế bào gốc từ máu và mô dây rốn có ưu điểm là non trẻ, ít tích tụ đột biến do ảnh hưởng của môi trường, tính sinh miễn dịch thấp, giữ được đặc tính của tế bào gốc tốt. Khi phụ nữ sinh con, có nhu cầu lưu trữ tế bào gốc có thể lưu trữ tế bào máu, tế bào mô dây rốn hoặc cả hai. Lưu trữ tế bào gốc được đánh giá là tiềm năng trong việc ứng dụng vào điều trị sau này khi cần thiết.
Các gia đình nếu có điều kiện có thể cân nhắc lưu trữ tế bào gốc cho con ngay từ khi chào đời. Đây là giải pháp dự phòng, giúp hỗ trợ điều trị trong tương lai khi trẻ hoặc người thân không may mắc một số bệnh lý nghiêm trọng có chỉ định ghép tế bào gốc.
Nhân viên Ngân hàng Mô, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM thu thập mô dây rốn của trẻ ngay sau sinh để lưu trữ. Ảnh: Trung Vũ
Hiện, tế bào gốc tạo máu được ứng dụng trong nhiều bệnh về hệ tạo máu và hệ miễn dịch như bệnh bạch cầu, thiếu máu bất sản, suy tủy xương, suy giảm miễn dịch bẩm sinh, bệnh Hodgkin, u lympho không Hodgkin. Y học thế giới cũng đang tiếp tục mở rộng nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc trung mô trong các lĩnh vực tim mạch, thần kinh, chuyển hóa như suy tim, tiểu đường type 1, Parkinson, xơ cứng teo cơ một bên, viêm xương khớp...
Việc lưu trữ tế bào gốc cho con được đánh giá có ý nghĩa hơn với gia đình có tiền sử mắc những bệnh lý có yếu tố di truyền hoặc được ghi nhận có thể điều trị bằng phương pháp cấy ghép tế bào gốc. Cụ thể là các bệnh máu ác tính và không ác tính, suy tủy xương, rối loạn miễn dịch hoặc tiểu đường type 1.
Lưu trữ tế bào gốc không áp dụng trong một số trường hợp như sản phụ có tai biến sản khoa, hoặc mắc các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ lây qua đường máu như viêm gan virus B, viêm gan virus C, rubella, giang mai, nhiễm virus cytomegalovirus (CMV), HIV. Thai phụ phát hiện ung thư khi mang thai cũng cần được bác sĩ đánh giá kỹ lưỡng đủ điều kiện lưu trữ hay không.
Tế bào gốc của trẻ cũng cần đáp ứng tiêu chuẩn vô khuẩn, thể tích thu thập đạt mức tối thiểu (với máu dây rốn), không có bất thường nhiễm sắc thể (với tế bào gốc trung mô). Thai phụ và gia đình có thể khám sớm tại các bệnh viện uy tín có cung cấp dịch vụ này để được tư vấn đầy đủ về chỉ định, lợi ích.
Trong một số trường hợp, dù bố hoặc mẹ từng trải qua quá trình điều trị ung thư, việc lưu trữ tế bào gốc cho con vẫn có thể được xem xét. Tuy nhiên, gia đình cần trao đổi cụ thể với bác sĩ chuyên khoa để được đánh giá nguy cơ.
Tiến sĩ Thẩm Thị Thu Nga
Trưởng Lab, Trung tâm Tế bào gốc
Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
| Độc giả gửi câu hỏi về sản phụ khoa tại đây để bác sĩ giải đáp |