Theo Liên minh Vaccine Toàn cầu Gavi, phân tích dữ liệu ung thư tại Mỹ cho thấy tỷ lệ ung thư cổ tử cung ở phụ nữ trẻ giảm 27% kể từ khi vaccine HPV được đưa vào năm 2006. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các bang rất rõ rệt: Washington DC, Rhode Island, Michigan và Hawaii giảm hơn 50%, trong khi Vermont và West Virginia hầu như không cải thiện. Mức giảm tỷ lệ bệnh gắn chặt với tỷ lệ tiêm chủng, cứ tăng 10 điểm phần trăm độ bao phủ vaccine thì tỷ lệ ung thư giảm thêm khoảng 11%.
Các nhà nghiên cứu cảnh báo nếu khoảng cách tiêm chủng giữa các bang tiếp tục duy trì, một số nơi có thể loại bỏ ung thư cổ tử cung sớm hàng thập kỷ, trong khi nơi khác vẫn chậm trễ.
Trong khi đó, nghiên cứu quy mô lớn tại Thụy Điển theo dõi gần một triệu phụ nữ trong 18 năm cho thấy hiệu quả bảo vệ của vaccine HPV không suy giảm theo thời gian. Những người tiêm trước 17 tuổi có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung xâm lấn thấp hơn 79% so với nhóm chưa tiêm, và mức bảo vệ vẫn duy trì ổn định sau hơn một thập kỷ.
Vaccine phòng 4 chủng HPV. Ảnh: CDC Mỹ
Các kết quả này gửi đi thông điệp rõ ràng: vaccine HPV đang hỗ trợ ngăn ngừa ung thư cổ tử cung và bảo vệ lâu dài. Thách thức còn lại không nằm ở hiệu quả, mà ở việc đảm bảo mọi người đều có cơ hội tiếp cận tiêm chủng.
Hiện thế giới có ba nhóm vaccine HPV, phân loại dựa trên số chủng virus phòng ngừa được, gồm vaccine giúp phòng 2 chủng HPV 16 và 18, loại giúp phòng 4 chủng gồm HPV 6, 11, 16, 18; loại phòng 9 chủng gồm 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52, 58.
Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo vaccine nên tiêm cho trẻ em gái 9-14 tuổi, trước khi có quan hệ tình dục, để đạt hiệu quả tối ưu. Nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, mở rộng tiêm cho cả nam giới nhằm giảm lây truyền và phòng bệnh liên quan đến HPV.
Văn Hà