Đọc các bài viết, ý kiến tranh luận xung quanh câu chuyện quy đổi điểm IELTS, tôi rất chia sẻ với những trăn trở về công bằng giáo dục, khoảng cách điều kiện học tập giữa các vùng miền. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận giáo dục đại học là nơi kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho quốc gia, tôi e rằng quan điểm hạn chế quyền ưu tiên của chứng chỉ quốc tế cần cân nhắc lại. Chúng ta cần phân biệt rạch ròi giữa công bằng về cơ hội và cào bằng về tiêu chuẩn.
Trước hết, cần thẳng thắn thừa nhận: đại học, đặc biệt là các trường top đầu, có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy chuẩn đầu vào cần bảo đảm khả năng theo học. Thực tế là phần lớn (80-90%) tài liệu nghiên cứu, công bố quốc tế và nguồn học thuật cập nhật dùng tiếng Anh. Một sinh viên Bách Khoa, Y Dược hay Kinh tế nếu không có khả năng đọc hiểu tài liệu chuyên sâu, không thể nghe giảng từ giáo sư nước ngoài, thì mãi mãi chỉ là những người đi sau về tri thức.
Việc các trường đại học ưu tiên xét tuyển IELTS không phải là "sính ngoại". Đó là một sự sàng lọc tự nhiên và cần thiết. Họ cần những sinh viên đã sẵn sàng về mặt công cụ để tiếp thu tri thức ở mức độ cao hơn. Nếu vì áp lực công bằng vùng miền mà hạ thấp chuẩn đầu vào ngoại ngữ, chúng ta đang vô tình tạo ra một thế hệ cử nhân "mù chữ" trong môi trường học thuật quốc tế. Đó là sự lãng phí nguồn lực xã hội lớn hơn rất nhiều.
Dưới góc độ khoa học kiểm tra đánh giá, tôi cho rằng quy đổi điểm IELTS sang điểm các môn thi tốt nghiệp là có cơ sở, dù có thể cần điều chỉnh tỷ lệ. Bài thi Tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh hiện nay chủ yếu kiểm tra ngữ pháp và từ vựng (kỹ năng thụ động). Trong khi đó, để đạt mức điểm 6.5-7.0 IELTS, thí sinh buộc phải có tư duy logic trong văn viết (Writing), khả năng phản biện và tổng hợp thông tin trong bài nghe và nói. Đây chính là những kỹ năng học thuật nền tảng của một sinh viên đại học.
Dĩ nhiên IELTS không thay thế được đánh giá năng lực Toán, Lý, Hóa nhưng để đạt 7.0 IELTS, em đó cần một tư duy ngôn ngữ trưởng thành, phục vụ việc học tốt hơn. Do đó, xét tuyển bằng IELTS thực chất là xét tuyển năng lực tư duy, điều này hoàn toàn công bằng về mặt học thuật.
Lo ngại lớn nhất là IELTS tạo ra bất bình đẳng vì chi phí thi và ôn luyện cao, chỉ con nhà giàu mới tiếp cận được. Đây là một thực tế, nhưng giải pháp không nằm ở việc vứt bỏ cái thước đo chuẩn mực. Trong 5 năm trở lại đây, công nghệ đã dân chủ hóa việc học. Tài nguyên học liệu mở, các nền tảng AI, YouTube đã khiến chi phí tiếp cận tri thức giảm xuống đáng kể chi phí tiếp cận, có nhiều nguồn học liệu mở có chất lượng rất tốt.
Thực tế chứng minh, rất nhiều Thủ khoa, Á khoa hoặc các em học sinh ở Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định... vẫn đạt 8.0 IELTS nhờ khả năng tự học mà không cần đến các trung tâm đắt đỏ. Nếu chúng ta loại bỏ ưu tiên IELTS, chúng ta đang tước đi động lực để các em vươn lên tiếp cận chuẩn mực toàn cầu.
Công bằng trong tuyển sinh không có nghĩa là "kéo người chạy nhanh chậm lại để đợi người đi chậm", mà là tạo điều kiện để người đi chậm có thể chạy nhanh hơn. Thay vì bỏ xét tuyển hoặc giảm quyền lợi của thí sinh có IELTS, chúng ta nên tìm cách đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng Internet, chương trình Tiếng Anh hệ 10 năm và nâng cao chất lượng giáo viên tại các vùng khó khăn.
Đồng thời, các trường đại học cần tinh chỉnh lại thang quy đổi. Mức 4.0 hay 5.0 IELTS cần cân nhắc nên được cộng điểm hay không, nhưng mức 6.5-7.0 trở lên cần được trân trọng xứng đáng. Kết hợp IELTS với các bài thi đánh giá năng lực hoặc điểm Toán, Văn là phương án tối ưu để đánh giá toàn diện, thay vì triệt tiêu vai trò của chứng chỉ quốc tế.
Hãy để giáo dục đại học làm đúng chức năng của nó: chọn ra những người giỏi nhất và phù hợp nhất với thời đại, chứ không phải chọn những hoàn cảnh giống nhau nhất.
Mai Văn Kết