Sáu năm sau, trong Dự thảo Hồ sơ chính sách dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, do Bộ Công an chủ trì soạn thảo, biện pháp "yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước" lại xuất hiện. Không chỉ vậy, dự thảo còn bổ sung ba biện pháp cưỡng chế mới, gồm: tạm ngừng xuất cảnh, niêm phong trụ sở kinh doanh, tạm dừng đăng kiểm và cấp giấy phép lái xe.
Yêu cầu cắt điện nước thuộc về một hiện tượng rộng hơn mà tôi tạm gọi là "chưa được thì đề xuất lại". Đó là những chính sách đã bị cơ quan có thẩm quyền gạt đi, rồi một thời gian sau lại xuất hiện mà không được giải trình thấu đáo.
Hãy nhìn sang lĩnh vực giao thông. Năm 2017, HĐND thành phố Hà Nội thông qua đề án quản lý xe cá nhân, trong đó có giải pháp thu phí ôtô vào nội đô. Năm 2022, Sở Giao thông vận tải trình UBND thành phố đề án thu phí, dự kiến triển khai năm 2024. UBND thành phố đánh giá chưa phù hợp, chưa đảm bảo đầy đủ, toàn diện các điều kiện thực hiện. Năm 2023, Sở lại trình tiếp, lùi lộ trình sang 2027. Năm 2024, có đại biểu Quốc hội đề nghị luật hóa trong Luật Đường bộ, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng nội dung này cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động kỹ lưỡng.
Đề xuất thu phí nhiều lần đưa ra rồi dừng lại, mà không chỉ ra được sự thay đổi bối cảnh, dường như cho thấy sự bế tắc trong quản lý, chứ không phải sự kiên trì cải cách.
Một đề xuất bị bác tại thời điểm này hoàn toàn có thể hợp lý tại thời điểm khác. Kinh tế thay đổi, công nghệ thay đổi, nhận thức xã hội thay đổi. Lập pháp cần linh hoạt và không ai muốn một hệ thống pháp luật cứng nhắc đến mức không thể tự sửa mình. Nhưng sự linh hoạt ấy chỉ có ý nghĩa khi đi kèm với giải trình thực chất.
Quay lại chuyện cắt điện, nước. Năm 2020, Quốc hội bác vì bốn lý do cốt lõi. Thứ nhất, vi phạm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm, bởi cắt điện nước một hộ gia đình hay một cơ sở sản xuất thì trẻ em, người già, công nhân đều phải chịu trận dù họ không vi phạm. Thứ hai, hành chính hóa quan hệ dân sự, bởi hợp đồng cung cấp điện nước là giao dịch dân sự giữa nhà cung cấp và người sử dụng, việc không chấp hành quyết định xử phạt hành chính không đồng nghĩa với vi phạm hợp đồng. Thứ ba, Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành đã có bốn nhóm biện pháp cưỡng chế, trên thực tế không có khó khăn vướng mắc đáng kể do thiếu biện pháp. Thứ tư, biện pháp này can thiệp quá sâu vào quyền của công dân mà chưa chắc đảm bảo hiệu quả tương xứng.
Sáu năm sau, không lý do nào trong bốn lý do ấy mất đi. Thậm chí, bối cảnh chính sách hiện nay còn nghiêng mạnh hơn về phía bảo vệ quyền công dân và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp. Tinh thần chung của các Nghị quyết gần đây về đổi mới xây dựng pháp luật và phát triển kinh tế tư nhân đều nhấn mạnh rằng mức độ hạn chế quyền phải cân đối, hợp lý với lợi ích đạt được; rằng doanh nghiệp cần được hoạt động trong môi trường lành mạnh, thông thoáng.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong ý kiến góp ý cho hồ sơ chính sách lần này cũng nhận định rằng các biện pháp bổ sung có thể khiến doanh nghiệp ngừng hoạt động, dẫn tới giải thể hoặc phá sản, ảnh hưởng rất lớn đến cả doanh nghiệp lẫn người lao động. Đó không phải mục tiêu mà chế tài xử phạt hành chính hướng tới.
Khi một bộ máy đã có sẵn n biện pháp cưỡng chế mà vẫn không dùng được thì việc xin thêm biện pháp n+1 không phải là giải pháp mà là lời thú nhận bất lực. Càng đáng lo hơn khi biện pháp được đề xuất lại rất dễ thực hiện, chỉ cần một công văn gửi điện lực hay công ty nước. Điều gì dễ làm thì cũng dễ bị lạm dụng.
Vậy vì sao đề xuất cũ vẫn quay lại? Tôi cho rằng vấn đề nằm ở chỗ không có cơ chế buộc cơ quan soạn thảo phải giải trình cụ thể khi tái trình một chính sách đã bị phủ quyết trước đó: hoàn cảnh đã thay đổi ra sao, những lý do Quốc hội từng bác bỏ đã được khắc phục thế nào, biện pháp mới có gì khác biệt về bản chất so với lần đề xuất trước.
Thiếu cơ chế ấy, kết quả là một vòng lặp: đề xuất, phản đối, im lặng rồi lại đề xuất. Quốc hội phải tranh luận đi tranh luận lại cùng một vấn đề, tiêu tốn thời gian lập pháp quý giá trong giai đoạn mà khối lượng luật cần sửa đổi đang rất lớn.
Chính Bộ Tư pháp trong ý kiến thẩm định hồ sơ lần này cũng đã nhắc lại rằng biện pháp cắt điện nước từng được trình Quốc hội năm 2020 nhưng không được thông qua. Nếu ngay cơ quan thẩm định cũng nhận thấy tiền lệ lập pháp ấy thì câu hỏi đáng đặt ra không phải "có nên cắt điện nước hay không" mà là "vì sao một đề xuất đã bị Quốc hội bác với đa số áp đảo lại có thể quay trở lại mà không cần chứng minh điều gì đã thay đổi".
Hiện tượng này không chỉ có ở Việt Nam. Giới lập pháp nhiều nước gọi đó là "zombie bills", nghĩa là những dự luật đã bị bác bỏ hoặc không được thông qua trong các phiên họp trước nhưng sau đó được "hồi sinh" bằng cách đưa vào một dự luật mới hoặc dưới một cái tên khác.
Khác biệt là ở các nghị viện phương Tây, mỗi khóa họp là một trang giấy trắng, dự luật cũ muốn quay lại phải được giới thiệu lại từ đầu và nghị sĩ đề xuất phải giải trình trước cử tri vì sao mình kiên trì với một ý tưởng đã bị bác bỏ trước đây.
Nghị quyết 66-NQ/TW đặt mục tiêu xóa bỏ tư duy "không quản được thì cấm" trong xây dựng pháp luật. Nhưng bên cạnh tư duy ấy còn một kiểu làm luật cần được xóa bỏ. Đó là kiểu "chưa được thì đề xuất lại", mà không có giải trình rõ ràng, thuyết phục.
Một hệ thống pháp luật nghiêm túc cần bảo vệ tính nhất quán của chính mình. Khi một dự luật bị phủ quyết với 80,91%, thì lần tái đề xuất tiếp theo phải đi kèm với bằng chứng thuyết phục rằng các lý do bác bỏ ấy đã không còn đúng nữa. Nếu không, chúng ta chỉ đang luẩn quẩn trong chính hệ thống lập pháp của mình.
Hoàng Hà