Theo Điều 158 Bộ luật Dân sự, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.
Như vậy, chủ sở hữu của chiếc xe máy có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt chiếc xe máy đó miễn sao không vi phạm pháp luật (ví dụ: họ có quyền lấy chiếc xe máy đó để cho người khác, mang đi cầm cố...).
Tuy nhiên, trong tình huống anh trình bày, chiếc xe máy thuộc sở hữu của người thanh niên nhưng tại thời điểm đó đã bị cảnh sát giao thông tạm giữ (việc tạm giữ xe máy là đúng quy định pháp luật). Tại thời điểm đó, chiếc xe máy của người thanh niên thuộc quyền quản lý hợp pháp của cảnh sát giao thông, và họ cũng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ xe nếu chiếc xe máy bị mất. Như vậy, tạm thời tại thời điểm đó, chủ xe không còn quyền quản lý hợp pháp với chiếc xe máy của mình mà thuộc về người khác (cụ thể là cảnh sát giao thông).
Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
- Tài sản là di vật, cổ vật.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp trộm cắp xe máy nói riêng, tài sản của chính mình nói chung khi tài sản đó đang thuộc quyền quản lý hợp pháp của người khác (ví dụ: xe máy, ôtô của mình nhưng đang bị cảnh sát giao thông tạm giữ theo đúng quy định của pháp luật; tài sản của mình đang được bên nhận cầm cố giữ đúng theo hợp đồng do hai bên ký kết...) và tài sản đó có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản.
Lưu ý: Theo Điều 173 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt thấp nhất đối với tội Trộm cắp tài sản là phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; khung hình phạt cao nhất đối với tội này là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Luật sư Phạm Thanh Hữu
Đoàn luật sư TP HCM