Russell, Leclerc đua tranh quyết liệt suốt 10 vòng đầu với hàng loạt pha tấn công và đảo chỗ nhau liên tục ngay từ khi xuất phát. Nhưng sau đó, do không về thay lốp trong thời gian áp dụng trạng thái xe an toàn ảo, Leclerc bị tụt lại, mất cơ hội đua tranh với hai chiếc W17 của Mercedes trong phần còn lại của cuộc đua.
Cờ hiệu báo Russell về nhất Grand Prix Australia - chặng đua mở màn F1 mùa 2026 - trên đường đua Albert Park, Melbourne ngày 8/3. Ảnh: AP
"Cuộc đua ở giai đoạn đầu rất quyết liệt", Russel nói với vẻ hoan hỉ sau khi về nhất. "Chúng tôi đã lường trước mọi việc sẽ rất khó khăn, và khi vào vạch xuất phát, tôi nhận thấy mức pin của mình gần như cạn kiệt. Tôi đã xuất phát không tốt và rõ ràng là đã màn cạnh tranh rất sát sao với Charles, vì vậy tôi thực sự rất vui khi giành chiến thắng".
Chênh lệch thành tích 0,8 giây giữa Russell tại vòng phân hạng với các đội đua khác khiến đối thủ ngỡ ngàng trước sức mạnh của động cơ Mercedes. Tuy nhiên, cuộc đua chính thức diễn ra gay cấn hơn hẳn vòng phân hạng ngay từ lúc xuất phát. Hai chiếc SF-26 của Ferrari lao nhanh như tên lửa và kẹp chiếc xe của Russell ở giữa, dù tay đua người Anh có lợi thế xuất phát đầu.
Tuy nhiên, chỉ sau ít phút, Russell sớm phản công khi vượt Leclerc để lấy lại vị trí dẫn đầu ngay ở vòng 2 tại khu vực giữa Turn 10 và Turn 11. Dù vậy, tay đua người Monaco không dễ dàng bỏ cuộc và một lần nữa vượt chiếc W17 tại khu vực Turn 9 ở vòng đua thứ 3. Dù bị vượt qua, Russell vẫn bám sát đối thủ ở các vòng tiếp theo để chờ cơ hội phản công.
Cơ hội cuối cùng đến với Russell ở vòng 9 khi anh áp sát và tấn công Leclerc tại Turn 1. Nhưng lần này tay đua Ferrari chống trả thành công, đẩy tay đua người Anh vào vị thế phải phòng thủ trước Lewis Hamilton - người đồng đội cũ bấy giờ đã đuổi kịp hai tay đua dẫn đầu.
Russell (phải) và Leclerc (trái) thay nhau dẫn đầu cuộc đua trong đoạn đầu. Ảnh: AFP
Khó khăn đã sớm đến với Russell ngoài dự tính ngay từ những giây đầu. Nhưng người đồng đội trẻ Kimi Antonelli của anh còn khó khăn gấp bội. Pha xuất phát chậm chạp khiến chiếc W17 của tay đua người Italy rơi xuống thứ 7 ngay tại vòng đầu dù xuất phát thứ hai. Antonelli sau đó phải vật lộn để vượt qua Lando Norriss, Arvid Lindblad và Isaac Hadjar, trước khi leo lên thứ tư ở vòng 6.
Cuộc đua đổi chiều khi biến cố xảy ra tại vòng 11. Chiếc RB22 của Hadjar bất ngờ mất lái trên đoạn đường thẳng chính, khiến trạng thái xe an toàn ảo được ban bố trên đường đua. Tận dụng thời cơ này, đa phần đội đều kéo nhau về pit thay lốp.
Tuy nhiên, trong khi Mercedess gọi Russell và Antonelli về pit, Ferrari vẫn để Leclerc, Hamilton tiếp tục chạy ngoài đường đua. Khi tín hiệu xe an toàn ảo được ban bố, chiếc xe của Leclerc vẫn chưa đi qua lối vào pit lane, tức Ferrari vẫn còn đủ thời gian để gọi chiếc SF22 vào pit nếu họ phản ứng nhanh như các đối thủ.
Chạy sau Leclerc, Hamilton lập tức đặt câu hỏi về quyết định này của Ferrari, nhưng không thay đổi được lựa chọn của đội đua Italy. Dù còn cơ hội sửa sai ở vòng kế tiếp khi trạng thái xe an toàn ảo vẫn còn, Ferrari kiên định với chiến thuật 1 pit đã được lên kế hoạch từ trước khi cuộc đua diễn ra.
Theo các bình luận viên, có thể tại thời điểm đó Ferrari cho rằng khó có thể về đích với chỉ một lần thay lốp tại vòng 12. Tuy nhiên, cuối cùng trên thực tế hai tay đua Mercedes đã làm được điều mà Ferrarri cho rằng không thể làm được - duy trì bộ lốp cứng từ vòng 12 cho tới khi cuộc đua kết thúc ở vòng 58.
George Russell trên đường đua Albert Park, Melbourne chiều 8/3. Ảnh: AFP
Nhờ vào thay lốp sớm ở thời điểm xe an toàn ảo, Russell tiết kiệm được nhiều thời gian so với Leclerc. Ngay trước khi Leclerc về pit ở vòng 25, Russell chỉ còn cách tay đua người Monaco 5 giây. Khi chiếc SF-22 thay lốp xong và trở lại đường đua, Leclerc đã kém vị trí đầu tới 14 giây. Dù có lợi thế từ bộ lốp mới hơn, Leclerc sau đó hầu như không đủ sức thu hẹp được khoảng cách với Russell. Từ lúc này, cơ hội cạnh tranh ngôi đầu đã hết với Ferrari.
Trong khi Mercedes và Ferrari sớm thể hiện sự bứt phá trong kỷ nguyên mới, hai đối thủ nặng ký McLaren và Red Bull tỏ ra lép vế tại chặng đua mở màn mùa giải. Tay đua chủ nhà Oscar Piastri gặp tai nạn sớm lúc đưa xe từ pit ra khu vực xuất phát và phải bỏ cuộc ngay từ khi cuộc đua chưa bắt đầu. ĐKVĐ Lando Norris bị 4 tay đua của Mercedes và Ferrari bỏ xa. 35 giây - khoảng cách giữa vị trí thứ năm của Norris với nhóm trên khi cán đích - cho thấy McLaren còn quá nhiều việc phải làm để bảo vệ ngôi vương.
Về đích ngay sau Norris là Max Verstappen, người chỉ xuất phát thứ 20 do tai nạn ngay ở vòng phân hạng đầu tiên. Sớm vượt qua các đối thủ để leo lên thứ sáu, nhưng tay đua người Hà Lan không thể vượt Norris trong suốt nửa cuối cuộc đua dù sớm thu hẹp khoảng cách với đối thủ.
Chặng đua mở màn kỷ nguyên hybrid mới chứng kiến số lượng pha vượt mặt (120 cú) nhiều hơn hẳn so với Grand Prix Australia năm ngoái (45 cú vượt). Hàng loạt pha vượt mặt qua lại giữa hai tay đua dẫn đầu khiến khán giả trầm trồ. Tuy nhiên, khi phân tích kỹ, những pha vượt mặt của năm nay đều không theo kịch bản truyền thống: tay đua phía sau lao vào bên trong khúc cua bằng cách phanh muộn hơn đối thủ hoặc vượt lên bằng cách thoát khỏi khúc cua trước đó nhanh hơn.
Leclerc trên đường đua Albert Park chiều 8/3. Ảnh: AFP
Thay vào đó, các tay đua phía dưới tận dụng chế độ tăng tốc (Boost mode) và chế độ vượt mặt (Overtake mode) để vượt qua đối thủ theo cách sử dụng năng lượng điện trong thời gian ngắn. Việc vượt mặt qua lại là hệ quả của người phía sau có pin đầy hơn đối thủ phía trước đang cạn pin vì trước đó vừa sử dụng để tấn công đối thủ. Kỹ thuật tấn công này không cải thiện tốc độ tổng thể, mà chỉ là cách các tay đua đang "giật gấu vá vai".
Trong khi đó, các tay đua đặt câu hỏi về các quy định mới. Họ muốn ban tổ chức F1 cân nhắc điều chỉnh luật lệ để cho xe giảm bớt tình trạng thiếu năng lượng cũng như giảm bớt sự can thiệp quá mức của hệ thống điện tử và việc phụ thuộc vào quá trình quản lý năng lượng.
Theo lãnh đạo Ferrari, Frederic Vassuer, màn đua tranh hấp dẫn tại Melbourne là tín hiệu của "một sự khởi đầu tốt", nhưng vẫn còn phải xem khán giả F1 sẽ đánh giá như thế nào ở các chặng đua tiếp theo.
Kết quả Grand PrixAustralia
|
Thứ tự |
Tay đua |
Đội |
Vị trí xuất phát |
Số lần về pit |
Fastest lap cá nhân |
Thành tích |
Điểm |
|
1 |
George Russell |
Mercedes |
1 |
1 |
1 phút22,670 giây |
1 giờ 23 phút 6,801 giây |
25 |
|
2 |
Kimi Antonelli |
Mercedes |
2 |
1 |
1:22,417 |
+2,974 giây |
18 |
|
3 |
Charles Leclerc |
Ferrari |
4 |
1 |
1:22,579 |
+15,519 |
15 |
|
4 |
Lewis Hamilton |
Ferrari |
7 |
1 |
1:22,423 |
+16,144 |
12 |
|
5 |
Lando Norris |
McLaren |
6 |
2 |
1:22,358 |
+51,741 |
10 |
|
6 |
Max Verstappen |
Red Bull |
20 |
2 |
1:22,091 |
+54,617 |
8 |
|
7 |
Oliver Bearman |
Haas |
12 |
1 |
1:24,020 |
+1 vòng |
6 |
|
8 |
Arvid Lindblad |
Racing Bulls |
9 |
1 |
1:24,182 |
+1 vòng |
4 |
|
9 |
Gabriel Bortoleto |
Audi |
10 |
2 |
1:23,257 |
+1 vòng |
2 |
|
10 |
Pierre Gasly |
Alpine |
14 |
1 |
1:24,486 |
+1 vòng |
1 |
|
11 |
Esteban Ocon |
Haas |
13 |
1 |
1:24,424 |
+1 vòng |
|
|
12 |
Alexander Albon |
Williams |
15 |
2 |
1:24,375 |
+1 vòng |
|
|
13 |
Liam Lawson |
Racing Bulls |
8 |
2 |
1:23,783 |
+1 vòng |
|
|
14 |
Franco Colapinto |
Alpine |
16 |
2 |
1:22,926 |
+2 vòng |
|
|
15 |
Carlos Sainz Jnr |
Williams |
21 |
3 |
1:23,590 |
+2 vòng |
|
|
16 |
Sergio Perez |
Cadillac |
18 |
2 |
1:26,070 |
+3 vòng |
|
|
17 |
Lance Stroll |
Aston Martin |
22 |
4 |
1:25,410 |
+15 vòng |
|
|
18 |
Fernando Alonso |
Aston Martin |
17 |
2 |
1:25,713 |
Bỏ dở cuộc đua |
|
|
19 |
Valtteri Bottas |
Cadillac |
19 |
1 |
1:27,364 |
Bỏ dở cuộc đua |
|
|
20 |
Isack Hadjar |
Red Bull |
3 |
1:25,239 |
Bỏ dở cuộc đua |
||
|
21 |
Oscar Piastri |
McLaren |
5 |
- |
Bỏ dở cuộc đua |
||
|
22 |
Nico Hulkenberg |
Audi |
11 |
- |
Bỏ dở cuộc đua |
Bảng điểm cá nhân sau chặng Australia
|
Thứ tự |
Tay đua |
Đội |
Số lần thắng chặng |
Số lần thắng Sprint |
Điểm số |
|
1 |
George Russell |
Mercedes |
1 |
25 |
|
|
2 |
Kimi Antonelli |
Mercedes |
18 |
||
|
3 |
Charles Leclerc |
Ferrari |
15 |
||
|
4 |
Lewis Hamilton |
Ferrari |
12 |
||
|
5 |
Lando Norris |
McLaren |
10 |
||
|
6 |
Max Verstappen |
Red Bull |
8 |
||
|
7 |
Oliver Bearman |
Haas |
6 |
||
|
8 |
Arvid Lindblad |
Racing Bulls |
4 |
||
|
9 |
Gabriel Bortoleto |
Audi |
2 |
||
|
10 |
Pierre Gasly |
Alpine |
1 |
||
|
11 |
Esteban Ocon |
Haas |
|||
|
12 |
Alexander Albon |
Williams |
|||
|
13 |
Liam Lawson |
Racing Bulls |
|||
|
14 |
Franco Colapinto |
Alpine |
|||
|
15 |
Carlos Sainz Jnr |
Williams |
|||
|
16 |
Sergio Perez |
Cadillac |
|||
|
17 |
Lance Stroll |
Aston Martin |
|||
|
18 |
Fernando Alonso |
Aston Martin |
|||
|
19 |
Valtteri Bottas |
Cadillac |
|||
|
20 |
Isack Hadjar |
Red Bull |
|||
|
21 |
Oscar Piastri |
McLaren |
|||
|
22 |
Nico Hulkenberg |
Audi |
Bảng điểm đội đua sau chặng Australia
|
Thứ tự |
Đội |
Số lần thắng chặng |
Số lần thắng sprint |
Điểm số |
|
1 |
Mercedes |
1 |
43 |
|
|
2 |
Ferrari |
27 |
||
|
3 |
McLaren |
10 |
||
|
4 |
Red Bull |
8 |
||
|
5 |
Haas |
6 |
||
|
6 |
Racing Bulls |
4 |
||
|
7 |
Audi |
2 |
||
|
8 |
Alpine |
1 |
||
|
9 |
Williams |
|||
|
10 |
Cadillac |
|||
|
11 |
Aston Martin |
Minh Phương