Khu vực nông thôn tỉnh An Giang hiện có 665.160 hộ dân, dự kiến năm 2025, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt 80,96%. Theo báo cáo tình hình cấp nước nông thôn năm 2025 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, toàn tỉnh hiện có 238 công trình cấp nước tập trung đang hoạt động, được quản lý theo ba mô hình chính, gồm: đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp và hợp tác xã. Trong đó, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đang trực tiếp quản lý 31 trạm cấp nước trên địa bàn An Giang.
Một công trình nước sạch đang được đầu tư ở An Giang. Ảnh: Nguyễn Oanh
Tổng số hộ dân đang được các hệ thống do Trung tâm quản lý phục vụ lên tới hàng trăm nghìn hộ, góp phần đảm bảo nhu cầu nước sinh hoạt cho người dân nông thôn. Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy sự phân tán trong mô hình quản lý khiến việc đầu tư, vận hành và nâng cấp công trình chưa đồng đều giữa các khu vực.
Nhiều công trình được xây dựng từ lâu, quy mô nhỏ, công nghệ cũ, chưa được đầu tư cải tạo kịp thời. Một số trạm cấp nước chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu, khó mở rộng công suất khi dân số tăng hoặc khi yêu cầu về chất lượng nước ngày càng cao.
Sau quá trình sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính, công tác quản lý cấp nước tại An Giang gặp thêm nhiều thách thức. Một số công trình nằm rải rác ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trong khi kinh phí dành cho sửa chữa, nâng cấp và mở rộng còn hạn chế.
Nhiều hệ thống cấp nước quy mô nhỏ đã xuống cấp theo thời gian, đường ống hư hỏng, thất thoát nước lớn nhưng chưa được bố trí vốn đầu tư để cải tạo. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cung cấp nước ổn định, đặc biệt trong mùa khô hoặc khi xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn.
Bên cạnh đó, việc áp dụng khung giá nước sạch cũng tạo áp lực cho các đơn vị vận hành, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi khả năng chi trả của người dân còn hạn chế.
Theo Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương không chỉ cần nâng tỷ lệ tiếp cận nước sạch mà còn cần đảm bảo tính bền vững của công trình, chất lượng nước và khả năng vận hành lâu dài.
Đối với An Giang, mục tiêu này đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn để sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các công trình hiện hữu, đồng thời xây dựng thêm các hệ thống cấp nước tập trung tại những khu vực còn phụ thuộc vào nguồn nước phân tán.
Báo cáo kiến nghị cần tiếp tục bố trí ngân sách cho việc nâng cấp công trình cấp nước ở khu vực đất liền và các vùng khó khăn, đồng thời duy trì các chương trình đầu tư tương tự giai đoạn 2021 - 2025 nhằm đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra.
Dù đạt tỷ lệ tiếp cận nước sạch ở mức cao, An Giang vẫn phải đối mặt với bài toán về chất lượng dịch vụ, khả năng mở rộng và tính ổn định của hệ thống cấp nước nông thôn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn ngày càng phức tạp, việc đầu tư cho hạ tầng nước sạch không chỉ là nhu cầu trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài đối với phát triển bền vững và xây dựng nông thôn mới.
Các cơ quan chuyên môn cho rằng, bên cạnh nguồn vốn nhà nước, cần sự tham gia của khu vực tư nhân và cộng đồng để nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, từng bước đảm bảo người dân nông thôn An Giang được sử dụng nước sạch ổn định, an toàn và bền vững.
Thế Đan