Hơn 200 năm trước, vua Gia Long cho xây dựng kinh thành Huế sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước. Theo sách Đại Nam thực lục, thay vì chọn thành Gia Định do mình xây dựng, vua Gia Long chọn vùng đất Phú Xuân, nơi xưa kia chúa Nguyễn lập phủ để xây dựng kinh thành. Kiến trúc kinh thành Huế kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc dịch lý và phong thủy của phương Đông với kiểu thành Vauban của Pháp, được vận dụng phù hợp với địa thế tự nhiên của vùng đất Phú Xuân - Huế.
Sau khi vua Gia Long mất năm 1820, vua Minh Mạng tiếp tục xây dựng kinh thành Huế, đến tháng 6/1832 thì hoàn thành. Kinh thành Huế hình gần vuông, chu vi vòng thành hơn 10 km, tường thành dày 21,5 m, cao 6,6 m, được xây khúc khuỷu với những pháo đài bố trí cách đều nhau, kèm theo pháo nhãn, đại bác, kho đạn. Ngoài 10 cửa chính và một cửa phụ ở Trấn Bình đài, triều Nguyễn cũng xây dựng hai lối vào sông Ngự Hà nằm giữa kinh thành Huế qua cống Đông thành Thủy Quan và Tây thành Thủy Quan.
Năm 1993, quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Hơn 200 năm trước, vua Gia Long cho xây dựng kinh thành Huế sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước. Theo sách Đại Nam thực lục, thay vì chọn thành Gia Định do mình xây dựng, vua Gia Long chọn vùng đất Phú Xuân, nơi xưa kia chúa Nguyễn lập phủ để xây dựng kinh thành. Kiến trúc kinh thành Huế kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc dịch lý và phong thủy của phương Đông với kiểu thành Vauban của Pháp, được vận dụng phù hợp với địa thế tự nhiên của vùng đất Phú Xuân - Huế.
Sau khi vua Gia Long mất năm 1820, vua Minh Mạng tiếp tục xây dựng kinh thành Huế, đến tháng 6/1832 thì hoàn thành. Kinh thành Huế hình gần vuông, chu vi vòng thành hơn 10 km, tường thành dày 21,5 m, cao 6,6 m, được xây khúc khuỷu với những pháo đài bố trí cách đều nhau, kèm theo pháo nhãn, đại bác, kho đạn. Ngoài 10 cửa chính và một cửa phụ ở Trấn Bình đài, triều Nguyễn cũng xây dựng hai lối vào sông Ngự Hà nằm giữa kinh thành Huế qua cống Đông thành Thủy Quan và Tây thành Thủy Quan.
Năm 1993, quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Kỳ Đài Huế được xây dựng năm 1807 dưới thời vua Gia Long, cùng thời điểm xây kinh thành Huế. Kỳ Đài nằm cạnh sông Hương, trước Đại Nội Huế, là một trong những công trình quan trọng, được các đời vua Nguyễn tu bổ nhiều lần. Sau khi vua Gia Long qua đời, vua Minh Mạng cho xây dựng hoàn chỉnh kinh thành Huế, Kỳ Đài cũng được tu sửa và hoàn thiện vào năm 1840.
Công trình gồm ba tầng, được xây dựng bằng gạch vồ (làm từ đất nung ở nhiệt độ thấp, thô nhám). Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m, tổng cộng khoảng 17,5 m. Từ mặt đất tới đỉnh Kỳ Đài là hơn 54 m. Xưa kia, trên mỗi tầng của Kỳ Đài, triều Nguyễn bố trí lính canh, đại bác để phòng thủ.
Theo sử sách, cột cờ trước đây làm bằng gỗ cao hơn 30 m song bị bão đánh gãy nên dưới thời vua Thành Thái được thay bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy. Năm 1948, cột cờ được xây lại bằng bêtông cốt sắt với chiều cao 37 m. Nền Kỳ Đài lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa.
Kỳ Đài Huế được xây dựng năm 1807 dưới thời vua Gia Long, cùng thời điểm xây kinh thành Huế. Kỳ Đài nằm cạnh sông Hương, trước Đại Nội Huế, là một trong những công trình quan trọng, được các đời vua Nguyễn tu bổ nhiều lần. Sau khi vua Gia Long qua đời, vua Minh Mạng cho xây dựng hoàn chỉnh kinh thành Huế, Kỳ Đài cũng được tu sửa và hoàn thiện vào năm 1840.
Công trình gồm ba tầng, được xây dựng bằng gạch vồ (làm từ đất nung ở nhiệt độ thấp, thô nhám). Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m, tổng cộng khoảng 17,5 m. Từ mặt đất tới đỉnh Kỳ Đài là hơn 54 m. Xưa kia, trên mỗi tầng của Kỳ Đài, triều Nguyễn bố trí lính canh, đại bác để phòng thủ.
Theo sử sách, cột cờ trước đây làm bằng gỗ cao hơn 30 m song bị bão đánh gãy nên dưới thời vua Thành Thái được thay bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy. Năm 1948, cột cờ được xây lại bằng bêtông cốt sắt với chiều cao 37 m. Nền Kỳ Đài lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa.
Lầu Ngũ Phụng nằm ở phía trên cửa Ngọ Môn, ở mặt Nam của hoàng thành, phía trước điện Thái Hòa. Dưới thời vua Gia Long, nơi đây là đài Nam Khuyết, phía trên là điện Càn Nguyên với hai cửa Tả Đoan và Hữu Đoan. Năm 1833, vua Minh Mạng đổi làm 5 cửa, ở giữa là Ngọ Môn, hai cửa hai bên gọi là tả Giáp môn, hữu Giáp môn, hai cửa Khuyết môn tả, hữu, phía trên xây lầu Ngũ Phụng.
Trải qua chiến tranh và thiên tai, công trình bị xuống cấp và được trùng tu nhiều lần. Năm 2012, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã tu bổ kiến trúc với tổng kinh phí gần 80 tỷ đồng. Sau 8 năm, lầu Ngũ Phụng đã mở cửa đón khách tham quan vào năm 2021.
Lầu Ngũ Phụng nằm ở phía trên cửa Ngọ Môn, ở mặt Nam của hoàng thành, phía trước điện Thái Hòa. Dưới thời vua Gia Long, nơi đây là đài Nam Khuyết, phía trên là điện Càn Nguyên với hai cửa Tả Đoan và Hữu Đoan. Năm 1833, vua Minh Mạng đổi làm 5 cửa, ở giữa là Ngọ Môn, hai cửa hai bên gọi là tả Giáp môn, hữu Giáp môn, hai cửa Khuyết môn tả, hữu, phía trên xây lầu Ngũ Phụng.
Trải qua chiến tranh và thiên tai, công trình bị xuống cấp và được trùng tu nhiều lần. Năm 2012, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã tu bổ kiến trúc với tổng kinh phí gần 80 tỷ đồng. Sau 8 năm, lầu Ngũ Phụng đã mở cửa đón khách tham quan vào năm 2021.
Hai di tích Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình nằm bên bờ sông Hương trước kinh thành Huế được in trên tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam.
Nghênh Lương Đình (hay Nghênh Lương Tạ) được xây dựng năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng. Còn Phu Văn Lâu được xây dựng năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, kết quả các kỳ thi.
Hai di tích Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình nằm bên bờ sông Hương trước kinh thành Huế được in trên tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng Việt Nam.
Nghênh Lương Đình (hay Nghênh Lương Tạ) được xây dựng năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng. Còn Phu Văn Lâu được xây dựng năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, kết quả các kỳ thi.
Hiển Lâm Các nằm trong khu vực Thế Tổ Miếu, nơi thờ các vị vua triều Nguyễn, được xây dựng vào năm 1821-1822. Hiển Lâm Các làm bằng gỗ, là công trình cao nhất bên trong hoàng thành Huế với kết cấu 3 tầng. Hai bên Hiển Lâm Các là cửa Tuấn Liệt và cửa Sùng Công, bên trên cửa đặt lầu chuông và lầu trống. Phía trước Hiển Lâm Các trong sân Thế Miếu đặt bảo vật quốc gia cửu đỉnh được đúc dưới thời vua Minh Mạng. Ngày 8/5/2024, những bản đúc nổi trên bảo vật quốc gia cửu đỉnh ở Thế Tổ Miếu được UNESCO công nhận di sản tư liệu thế giới.
Hiển Lâm Các nằm trong khu vực Thế Tổ Miếu, nơi thờ các vị vua triều Nguyễn, được xây dựng vào năm 1821-1822. Hiển Lâm Các làm bằng gỗ, là công trình cao nhất bên trong hoàng thành Huế với kết cấu 3 tầng. Hai bên Hiển Lâm Các là cửa Tuấn Liệt và cửa Sùng Công, bên trên cửa đặt lầu chuông và lầu trống. Phía trước Hiển Lâm Các trong sân Thế Miếu đặt bảo vật quốc gia cửu đỉnh được đúc dưới thời vua Minh Mạng. Ngày 8/5/2024, những bản đúc nổi trên bảo vật quốc gia cửu đỉnh ở Thế Tổ Miếu được UNESCO công nhận di sản tư liệu thế giới.
Điện Thái Hòa nằm trong hoàng thành Huế được vua Gia Long khởi công xây dựng năm 1805. Đây là một trong những công trình đồ sộ mang tính biểu tượng của vương triều Nguyễn; nơi dùng cho các buổi triều quan trọng của triều đình như lễ đăng quang, sinh nhật vua, tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức hai lần vào mùng 1 và 15 Âm lịch hàng tháng.
Vào tháng 11/2021, điện Thái Hòa được Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế tu bổ với tổng kinh phí hơn 128 tỷ đồng. Công trình dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 11/2024.
Điện Thái Hòa nằm trong hoàng thành Huế được vua Gia Long khởi công xây dựng năm 1805. Đây là một trong những công trình đồ sộ mang tính biểu tượng của vương triều Nguyễn; nơi dùng cho các buổi triều quan trọng của triều đình như lễ đăng quang, sinh nhật vua, tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức hai lần vào mùng 1 và 15 Âm lịch hàng tháng.
Vào tháng 11/2021, điện Thái Hòa được Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế tu bổ với tổng kinh phí hơn 128 tỷ đồng. Công trình dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 11/2024.
Điện Kiến Trung được xây dựng năm 1921, hoàn thành năm 1923 dưới triều vua Khải Định. Đây là một trong 5 công trình quan trọng nằm trên trục thần đạo của Tử Cấm Thành cùng với điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái.
Dưới thời vua Bảo Đại, điện trở thành nơi ăn ở chung của cả gia đình nhà vua. Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, ngày 29/8/1945, điện Kiến Trung là nơi vua Bảo Đại tiếp xúc với Phái đoàn Chính phủ lâm thời để bàn về việc thoái vị, trao lại quyền điều hành đất nước cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1947, do chiến tranh, công trình sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn lại nền móng. Tháng 2/2019, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế làm chủ đầu tư phục hồi điện Kiến Trung với tổng kinh phí hơn 123 tỷ đồng. Công trình hoàn thành và đón khách tham quan từ Tết Giáp Thìn 2024.
Điện Kiến Trung được xây dựng năm 1921, hoàn thành năm 1923 dưới triều vua Khải Định. Đây là một trong 5 công trình quan trọng nằm trên trục thần đạo của Tử Cấm Thành cùng với điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái.
Dưới thời vua Bảo Đại, điện trở thành nơi ăn ở chung của cả gia đình nhà vua. Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, ngày 29/8/1945, điện Kiến Trung là nơi vua Bảo Đại tiếp xúc với Phái đoàn Chính phủ lâm thời để bàn về việc thoái vị, trao lại quyền điều hành đất nước cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1947, do chiến tranh, công trình sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn lại nền móng. Tháng 2/2019, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế làm chủ đầu tư phục hồi điện Kiến Trung với tổng kinh phí hơn 123 tỷ đồng. Công trình hoàn thành và đón khách tham quan từ Tết Giáp Thìn 2024.
Lăng vua Khải Định là nơi chôn cất vua Khải Định, vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, nằm ở xã Thủy Bằng, TP Huế. Lăng xây từ năm 1920, kéo dài suốt 11 năm (tới 1931) mới hoàn tất. So với các lăng vua tiền nhiệm, lăng Khải Định quy mô nhỏ nhưng xây công phu và tốn thời gian, do sử dụng đồ gốm sứ, thủy tinh, gạch ngói... đều từ nước ngoài chuyển về.
Lăng vua Khải Định là nơi chôn cất vua Khải Định, vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, nằm ở xã Thủy Bằng, TP Huế. Lăng xây từ năm 1920, kéo dài suốt 11 năm (tới 1931) mới hoàn tất. So với các lăng vua tiền nhiệm, lăng Khải Định quy mô nhỏ nhưng xây công phu và tốn thời gian, do sử dụng đồ gốm sứ, thủy tinh, gạch ngói... đều từ nước ngoài chuyển về.
Nằm dưới chân đồi Vọng Cảnh ở phường Thủy Xuân, TP Huế, Khiêm Lăng với kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình, là nơi chôn cất vua Tự Đức (1829-1883). Lăng được xây dựng từ năm 1866, cơ bản hoàn thành năm 1873.
Vừa qua, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế triển khai dự án Bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lăng vua Tự Đức, gồm điện Hòa Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Đường, la thành, cổng, bình phong với tổng kinh phí hơn 99 tỷ đồng.
Nằm dưới chân đồi Vọng Cảnh ở phường Thủy Xuân, TP Huế, Khiêm Lăng với kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình, là nơi chôn cất vua Tự Đức (1829-1883). Lăng được xây dựng từ năm 1866, cơ bản hoàn thành năm 1873.
Vừa qua, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế triển khai dự án Bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lăng vua Tự Đức, gồm điện Hòa Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Đường, la thành, cổng, bình phong với tổng kinh phí hơn 99 tỷ đồng.
Đấu trường Hổ Quyền ở thôn Trường Đá, phường Thủy Biều cách trung tâm TP Huế khoảng 3 km được xây dựng vào năm 1830 dưới thời vua Minh Mạng. Đấu trường là nơi triều đình tổ chức các trận chiến giữa voi và hổ để tôn vinh vẻ oai dũng của loài voi.
Hổ Quyền có nét tựa đấu trường La Mã, xây dựng lộ thiên, cấu trúc theo hình vành khăn, hai vòng thành trong và ngoài được xây bằng gạch vồ. Vòng thành trong cao 5,8 m, vòng thành ngoài cao 4,75 m, dày trung bình 4,5 m. Thành ngoài nghiêng tạo kiểu chân đế, chu vi tường ngoài là 140 m, đường kính lòng chảo là 44 m.
Theo sử sách, trận chiến voi và hổ cuối cùng diễn ra ở đấu trường Hổ Quyền được tổ chức vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái.
Đấu trường Hổ Quyền ở thôn Trường Đá, phường Thủy Biều cách trung tâm TP Huế khoảng 3 km được xây dựng vào năm 1830 dưới thời vua Minh Mạng. Đấu trường là nơi triều đình tổ chức các trận chiến giữa voi và hổ để tôn vinh vẻ oai dũng của loài voi.
Hổ Quyền có nét tựa đấu trường La Mã, xây dựng lộ thiên, cấu trúc theo hình vành khăn, hai vòng thành trong và ngoài được xây bằng gạch vồ. Vòng thành trong cao 5,8 m, vòng thành ngoài cao 4,75 m, dày trung bình 4,5 m. Thành ngoài nghiêng tạo kiểu chân đế, chu vi tường ngoài là 140 m, đường kính lòng chảo là 44 m.
Theo sử sách, trận chiến voi và hổ cuối cùng diễn ra ở đấu trường Hổ Quyền được tổ chức vào năm 1904 dưới thời vua Thành Thái.
Cầu Trường Tiền xây dựng dưới thời vua Thành Thái, là cầu đầu tiên bắc qua sông Hương, ngay sát kinh thành Huế. Đây cũng là một trong những cây cầu đầu tiên được xây dựng ở Đông Dương vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 theo kỹ thuật và vật liệu mới của phương Tây, kết cấu bằng thép. Ban đầu, cầu mang tên Thành Thái, rồi Clémenceau, Nguyễn Hoàng... Nhưng vì xưa kia đối diện phía tả ngạn của cầu có xưởng đúc tiền của triều Nguyễn nên người dân quen gọi là cầu Trường Tiền.
Kể từ khi Trường Tiền hoàn thành vào năm 1899, người dân xứ Huế đã ba lần chứng kiến cây cầu đổ sập. Ngày nay, cầu Trường Tiền đã được phục hồi hệ thống lan can gồm 10 ban công cho người đi bộ dừng chân, ngắm cảnh - mỗi vọng cảnh có chiều dài 7 m, rộng 1,25 m. Các ban công được xây dựng theo hình nửa lục giác hai bên các trụ cầu, nhô ra sông theo mẫu bao lơn cầu Trường Tiền thời vua Bảo Đại.
Cầu Trường Tiền xây dựng dưới thời vua Thành Thái, là cầu đầu tiên bắc qua sông Hương, ngay sát kinh thành Huế. Đây cũng là một trong những cây cầu đầu tiên được xây dựng ở Đông Dương vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 theo kỹ thuật và vật liệu mới của phương Tây, kết cấu bằng thép. Ban đầu, cầu mang tên Thành Thái, rồi Clémenceau, Nguyễn Hoàng... Nhưng vì xưa kia đối diện phía tả ngạn của cầu có xưởng đúc tiền của triều Nguyễn nên người dân quen gọi là cầu Trường Tiền.
Kể từ khi Trường Tiền hoàn thành vào năm 1899, người dân xứ Huế đã ba lần chứng kiến cây cầu đổ sập. Ngày nay, cầu Trường Tiền đã được phục hồi hệ thống lan can gồm 10 ban công cho người đi bộ dừng chân, ngắm cảnh - mỗi vọng cảnh có chiều dài 7 m, rộng 1,25 m. Các ban công được xây dựng theo hình nửa lục giác hai bên các trụ cầu, nhô ra sông theo mẫu bao lơn cầu Trường Tiền thời vua Bảo Đại.
Chùa Thiên Mụ nằm bên dòng sông Hương trên đồi Hà Khê được xây dựng dưới thời chúa Nguyễn Hoàng vào năm 1601. Ngôi chùa hơn 400 năm tuổi này được xem là đại danh lam và cổ nhất ở Huế. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu, chùa Thiên Mụ được trùng tu khang trang hơn.
Hiện nay, khuôn viên chùa trưng bày hai bảo vật quốc gia gồm chuông Đại hồng chung và bia đá Ngự kiến Thiên Mụ tự của chúa Nguyễn Phúc Chu nói về việc trùng tu chùa năm 1715.
Chùa Thiên Mụ nằm bên dòng sông Hương trên đồi Hà Khê được xây dựng dưới thời chúa Nguyễn Hoàng vào năm 1601. Ngôi chùa hơn 400 năm tuổi này được xem là đại danh lam và cổ nhất ở Huế. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu, chùa Thiên Mụ được trùng tu khang trang hơn.
Hiện nay, khuôn viên chùa trưng bày hai bảo vật quốc gia gồm chuông Đại hồng chung và bia đá Ngự kiến Thiên Mụ tự của chúa Nguyễn Phúc Chu nói về việc trùng tu chùa năm 1715.
Võ Thạnh
Ảnh tư liệu chụp trước 1945