WHO cảnh báo, kháng kháng sinh đang âm thầm đe dọa sức khỏe các gia đình trên toàn cầu. Ngoài gánh nặng tử vong và bệnh tật, AMR còn kéo theo chi phí kinh tế đáng kể. Nếu không có hành động kịp thời và hiệu quả, số ca tử vong do kháng kháng sinh có thể cao tương đương tử vong do ung thư, kể từ năm 2050.
Hưởng ứng Tuần lễ Thế giới nâng cao nhận thức về kháng kháng sinh, Hội Hô hấp Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Đề kháng kháng sinh và chiến lược điều trị nhiễm trùng đa chuyên khoa", cùng sự đồng hành của GSK Việt Nam, nhằm thúc đẩy hành động, nâng cao nhận thức và kêu gọi sử dụng kháng sinh hợp lý.
Mối đe dọa từ kháng kháng sinh
Theo các chuyên gia, Việt Nam là một trong những quốc gia đang phải đối mặt với mối đe dọa ngày càng gia tăng của tình trạng kháng kháng sinh, bắt nguồn từ việc sử dụng kháng sinh không cần thiết trong các trường hợp không nhiễm khuẩn, hoặc không hợp lý đối với từng loại vi khuẩn trong nhiều năm qua, đặc biệt trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cộng đồng, một số trường hợp buộc phải sử dụng kháng sinh liều cao cho trẻ em. Theo nghiên cứu của Torumkuney và cộng sự, tỷ lệ kháng thuốc của chủng vi khuẩn phế cầu và Haemophilus Influenzae - hai tác nhân chính gây viêm phổi, viêm tai giữa và viêm xoang - hiện ở mức báo động.
Tại hội thảo, các chuyên gia nhấn mạnh sự cần thiết của phối hợp hành động đa chuyên khoa để kiểm soát AMR, nhất là trong bối cảnh lạm dụng kháng sinh cho các bệnh lý hô hấp nhẹ vẫn còn phổ biến.
Hội thảo khoa học "Đề kháng kháng sinh và chiến lược điều trị nhiễm trùng đa chuyên khoa", do Hội Hô hấp Việt Nam tổ chức cùng sự đồng hành của GSK Việt Nam, tại Hà Nội, cuối năm 2025. Ảnh: GSK
GS.TS.BS Đinh Xuân Anh Tuấn - Nguyên hiệu trưởng Đại học Corse (Pháp) phân tích hậu quả của việc sử dụng kháng sinh khi không cần thiết là chúng tiêu diệt cả các vi khuẩn có lợi bảo vệ cơ thể, tạo điều kiện cho vi khuẩn đề kháng gia tăng và chiếm ưu thế, đồng thời truyền cơ chế kháng thuốc sang các vi khuẩn khác. "Nguy hại hơn nữa, tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng đang vô hiệu hóa khả năng diệt khuẩn của kháng sinh, làm tăng nguy cơ tử vong do các bệnh nhiễm trùng, đẩy lùi y học nhân loại trở về thế kỷ XIX khi bệnh nhiễm trùng còn là một bệnh nan y", GS.TS.BS Đinh Xuân Anh Tuấn cho biết.
PGS.TS.BS Trần Minh Điển - Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam dẫn chứng dữ liệu từ Bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh hô hấp chiếm tỷ lệ nhập viện cao nhất từ năm 2020-2024 và có xu hướng gia tăng mỗi năm. Các vi khuẩn chính gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em tại miền Bắc Việt Nam là Haemophilus Influenzae, phế cầu và Moraxella catarrhalis. Phần lớn các chủng này có tỷ lệ kháng cao với nhóm beta-lactam thông thường và macrolide - những kháng sinh được kê đơn phổ biến hiện nay.
Theo PGS.TS.BS Trần Minh Điển, chiến lược quản lý kháng sinh trong nhi khoa cần dựa trên khung phân loại của WHO, gồm ba nhóm kháng sinh: nhóm tiếp cận, nhóm theo dõi và nhóm dự trữ, với mục tiêu kê đơn đúng và hợp lý. Bên cạnh tuân thủ chiến lược quản lý và sử dụng kháng sinh, cần thúc đẩy chiến lược chẩn đoán nhằm chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh, giúp chỉ định kháng sinh đúng và đủ, giảm bớt kê đơn kháng sinh với các trường hợp nhiễm virus.
PGS.TS.BS Phạm Tuấn Cảnh - Phó chủ tịch Hội Tai Mũi Họng Việt Nam cập nhật: nhiễm khuẩn tai mũi họng và viêm phổi cộng đồng là bệnh lý hô hấp phổ biến ở người lớn, làm tăng đáng kể vào số ca nhập viện và tử vong, đặc biệt ở người cao tuổi và có bệnh nền. "Hiện nay, dữ liệu cho thấy chủng vi khuẩn phế cầu gây bệnh hô hấp đang giảm đáng kể mức độ nhạy cảm với các kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 2 và nhóm macrolide. Đây là dấu hiệu cảnh báo về tình trạng kháng thuốc ngày càng phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa xét nghiệm vi sinh và lựa chọn kháng sinh hợp lý trong thực hành lâm sàng", PGS.TS.BS. Phạm Tuấn Cảnh cho biết.
Lấy dẫn chứng từ quy định sử dụng kháng sinh do Bộ Y tế ban hành, PGS.TS.Dược sĩ Nguyễn Hoàng Anh - Giám đốc Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc, nhấn mạnh: "Hiểu biết về phân loại kháng sinh, dược động học, dược lực học là nền tảng để lựa chọn đúng kháng sinh, với liều dùng chính xác và đủ để vượt qua đề kháng của vi khuẩn, nhằm đảm bảo hiệu quả điều trị nhiễm trùng ngay từ giai đoạn khởi trị". Ông cho rằng dược sĩ cộng đồng và nhà thuốc cần tư vấn đúng, giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị kháng sinh đủ thời gian, qua đó góp phần giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh.
GS.TS.BS Ngô Quý Châu - Chủ tịch Hội Hô hấp Việt Nam, tổng kết: "Việc kiểm soát kháng kháng sinh cần được tiếp cận một cách toàn diện, đặc biệt trong ba lĩnh vực: hô hấp, tai mũi họng và nhi khoa - nơi kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất". Theo ông, để xây dựng chiến lược quản lý nhiễm khuẩn hiệu quả, cần dựa trên dữ liệu vi sinh cập nhật tại các bệnh viện, các nghiên cứu như SOAR (chương trình nghiên cứu giám sát kháng sinh) và khảo sát hành vi sử dụng thuốc. Đồng thời, việc đồng bộ hóa hướng dẫn điều trị và triển khai các chương trình đào tạo cho nhân viên y tế ở mọi cấp là yếu tố then chốt nhằm bảo vệ hiệu quả kháng sinh lâu dài.
Hành động hôm nay - bảo vệ ngày mai
Nhằm góp phần đẩy lùi kháng thuốc và đồng hành giải quyết thách thức y tế trên toàn cầu, GSK đã giới thiệu sáng kiến Fleming - một mạng lưới toàn cầu mới quy tụ chuyên môn về khoa học, công nghệ, lâm sàng, chính sách và tương tác cộng đồng, hướng tới phát triển các giải pháp can thiệp mới đối với kháng kháng sinh.
Hơn 70 năm qua, GSK đã tham gia nghiên cứu, sản xuất và cung cấp kháng sinh cho bệnh nhân trên toàn thế giới. Hiện nay, GSK sở hữu danh mục nghiên cứu và phát triển liên quan đến kháng kháng sinh (AMR) quy mô hàng đầu trong ngành, với hơn 30 loại thuốc và vaccine đang được phát triển. Trong đó, 12 sản phẩm nhắm đến các tác nhân gây bệnh được WHO và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) xếp vào nhóm "nguy cấp" hoặc "cực kỳ quan trọng".
Tại Việt Nam, GSK cũng nỗ lực góp phần phòng chống AMR. Bác sĩ Phạm Thị Mỹ Liên, Chủ tịch GSK Việt Nam, chia sẻ: "Chúng tôi đồng hành các cơ quan y tế, Đại sứ quán Anh tại Việt Nam, các hiệp hội y khoa cùng với các bệnh viện, nhà thuốc, nhân viên y tế để đẩy mạnh việc sử dụng kháng sinh hợp lý, đồng thời mở rộng độ bao phủ của tiêm chủng nhằm ngăn ngừa các bệnh do vi khuẩn gây ra. Qua đó, chúng tôi mong muốn duy trì hiệu quả của kháng sinh trong điều trị các nhiễm khuẩn hô hấp tại cộng đồng".
Kim Anh